Thứ năm, 18/08/2022
Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Kênh doanh nghiệp / / Trải nghiệm Đền Bà Kiệu - Thiên tiên điện giữa lòng Hà Nội

Trải nghiệm Đền Bà Kiệu - Thiên tiên điện giữa lòng Hà Nội

Đền Bà Kiệu là di tích lịch sử văn hóa quốc gia nằm ngay cạnh Hồ Gươm, một trong những nơi thờ mẫu xây dựng sớm nhất ở nước ta. Đền Bà Kiệu được xây vào thế kỷ 17, đền thờ ba vị nữ thần: Liễu Hạnh Công chúa, Ngọc Nữ Quỳnh Hoa và Ngọc Nữ Quế Hoa. Bài viết này HK 360 sẽ chia sẻ cho các bạn nhiều thông tin bổ ích hơn nữa về Đền nhé!

Nguồn gốc lịch sử Đền Bà Kiệu

Đền ở Hà Nội bờ Hồ Hoàn Kiếm, trước thuộc phường Đông Các, nay ở phố Đinh Tiên Hoàng, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đền có tên chữ Hán là “Thiên Tiên điện” hoặc đền Huyền Chân. Sách “Thăng Long cổ tích khảo” cho biết đền được xây dựng vào niên hiệu Vinh Tộ (1619-1628). Đến cuối niên hiệu Cảnh Hưng, một vị quan ở Lê phiên thuộc phủ Chúa lấy vườn ao, đất nhà mình ở cạnh đền cung cấp chi phí việc đèn nhang. Sau đó lại chuyển giao cho người thuộc huyện Đường Hào, trấn Hải Dương là Lê Trọng Hiến, Lê Trọng Sinh và Hoàng Thị Bo trông nom thờ cúng.


Đền Bà Kiệu ở phố Đinh Tiên Hoàng (Nguồn ảnh: internet)

Đền có tên gọi là đền Bà Kiệu. Ông Lê Trọng Sinh bỏ tiền của mình ra để xây dựng thêm tam quan. Tới giữa thế kỉ 19, vào năm Tự Đức thứ sáu, mùa thu Quý Hợi, đền lại được trùng tu thêm lần nữa. Đến năm Thành Thái thứ 2, thực dân Pháp mở đường, đền bị dỡ bỏ mất phần điện trước.

Đền Ba Kiệu - Một Di tích thờ Mẫu đặc sắc tại Hà Nội

Cái tên đền Bà Kiệu chỉ là tên dân gian quen gọi (dù chưa biết xuất xứ từ đâu), xưa kia đền có tên là “Huyền Chân Địa” (Thiên Tiên Địa) đền là một di tích cổ nằm ở khu đất thiêng giữa trung tâm Thăng Long - Hà Nội, phía trước đền là cụm di tích Ngọc Sơn với tháp Rùa nơi gắn với huyền thoại vua Lê Thái Tổ trả gươm cho Rùa thần, phía trên của đền là quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục nơi diễn ra những sự kiện lịch sử gắn với giới nho sĩ trí thức yêu nước Hà thành.

Hình ảnh một góc nhìn của Đền Bà Kiệu (Nguồn ảnh: internet)

Đền thờ Mẫu Liễu Hạnh và hai thị nữ là Quỳnh Hoa và Quế Hoa Công chúa. Mẫu Liễu là một trong tứ bất tử (bốn vị thánh bất tử): Phù Đổng Thiên Vương (Thánh Gióng), Tản Viên Sơn Thánh và Chử Đồng Tử, trong thần điện Việt Nam. Về sự tích Mẫu Liễu Hạnh hiện còn khá nhiều thư tịch cổ nói về bà. Khảo cứu các sách Truyền Kỳ Mạn Lục, Thính Văn Lục, Hà Thành Linh Tích Cổ Lục, Thăng Long Cổ Tích Khảo, chỉ có truyện Vân Cát thần nữ trong Truyền Kỳ Tân Phả của Đoàn Thị Điểm là ghi chép cụ thể và đầy đủ nhất. Loại trừ những yếu tố thần thoại được dân gian truyền tụng cuộc đời Mẫu Liễu Hạnh rất khớp với những điều ghi chép trong gia phả dòng họ Trần Lê ở quê hương bà thôn An Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định ngày nay. Sự tích của bà có thể được tóm lược như sau: Vốn là con gái Ngọc Hoàng vì đánh vỡ chén ngọc nên bị giáng xuống cõi trần. Đầu thai vào nhà Lê Thái Công với cái tên Giáng Tiên, rồi làm con nuôi vị hưu quan họ Trần. Giáng Tiên không những đẹp người mà còn đủ tài cầm, kỳ, thi, họa. Lấy chồng họ Đào con một viên quan ở làng, sinh được 2 người con 1 trai, 1 gái. Vợ chồng đang yên ấm xum vầy thì đã đến hạn về trời. Không bệnh tật gì, bỗng nhiên nàng hóa. Song lòng trần không dứt nàng lại xin vua cha cho xuống hạ giới, với phép biến hóa thần thông nàng đi ngao du khắp cõi, ẩn hiện bất thường, khi thì làm cô bán rượu ở Tây Hồ xướng họa cùng Trạng Bùng và nho sinh họ Ngô, họ Lý, lại lúc làm thơ ghẹo sứ bộ từ phương Bắc trở về. Cuối cùng nàng vào vùng đất Nghệ An kết duyên với một nho sĩ vốn là chồng cũ thác sinh, sau khi sinh được một người con trai nàng lại phải về trời. Ba năm đằng đẵng trên thiên đình, nỗi nhớ cõi trần day dứt không yên,Công chúa Liễu Hạnh lại xin xuống trần lần nữa, lần này Công chúa mang theo hai thị nữ là Quỳnh Hoa và Quế Hoa ở lại phố Cát, Thanh Hóa nơi núi non xinh đẹp, hoa cỏ tốt tươi, giếng ngọc linh thiêng, người vào Nam ra Bắc. Ở đây Tiên Chúa thường hiển linh ban phúc cho người lành giáng họa cho kẻ ác, dân chúng nhớ ơn đã lập đền thờ phụng. Bấy giờ là niên hiệu Cảnh Trị nhà Lê (1663 - 1671), Triều đình cho quân và thuật sĩ đến phá đền nhưng không được đành phải làm trả đền mới và phong cho Tiên Chúa là Mã Hoàng Công chúa, Chế Thắng Hòa Diệu Đại Vương, Mẫu Nghi Thiên Hạ... Mẫu Liễu Hạnh chính là biểu tượng của tình yêu, tự do, sự nhập thế và dấn thân vì cuộc sống đời thường.

Kiến trúc của Đền Bà Kiệu có gì nổi bật

Nét đẹp cổ kính của ngôi đền (Nguồn ảnh: internet)

Thời Nguyễn, đền Bà Kiệu có lần trùng tu nhỏ vào năm Tự Đức 6 (1853). Dấu tích kiến trúc còn lại bây giờ chủ yếu là từ đợt sửa chữa lớn ở thập kỷ sau đó (1864) với những nguyên liệu nổi tiếng của Thanh Hóa như gỗ rừng Nưa, đá núi Nhuệ. Khu đền chính có kết cấu hình chữ “Công”, gồm nhà đại bái, phương đình và hậu cung. Tam quan ba gian xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta.

Năm 1891, do thực dân Pháp xây đường vòng quanh Hồ Gươm nên khu đền chính bị dỡ mất tòa tiền tế và sân trước trở thành một đoạn phố. Đền Bà Kiệu hiện nay là một di tích gồm hai phần cách nhau bởi phố Đinh Tiên Hoàng, với khu đền chính nằm dọc góc phố Lò Sũ và cổng tam quan ở phía ven hồ.

Nhà đại bái cũng xây ba gian, tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, nhưng cao to hơn tam quan nhiều. Bộ mái gần gũi với phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Bờ nóc có dạng bờ đình, bên trên gắn hình cá hoá rồng bằng gốm hoặc men xanh đang nhìn vào bình nước thiêng ở giữa.

Bộ khung được làm khá vững chắc với 8 cột trụ bằng gỗ lim, chu vi cột cái 115cm, cột quân 105cm. Các cột hiên nhỏ hơn được làm bằng đá trắng, hình hộp chữ nhật mỗi cạnh rộng 25cm.

Trong nhà đại bái còn có bốn tượng cá chép hoá rồng đặt trên xà và dưới diềm của hai mái sau, trước. Tất cả được che mát dưới tán lá của một cây đa rất lớn. Liền sau nhà đại bái là một kiến trúc nhỏ dựng trên bốn chân cột kiểu phương đình 2 tầng 4 mái chạm mảng các hoa văn truyền thống theo kiến trúc thời Nguyễn.

Hậu cung gồm một nếp nhà ngang xây gạch kiểu tường hồi bít đốc. Dãy nhà bên phía phố Lò Sũ biến thành các cửa hàng. Từ mặt sau đền có thể đi qua quán giải khát để vào hậu cung. Năm 2015 dự kiến sẽ trùng tu đền.

Hậu cung Đền Bà Kiệu (Nguồn ảnh: internet)

Trong đền Bà Kiệu hiện nay còn giữ được bộ sưu tập văn hoá lịch sử gồm nhiều chủng loại và chất liệu khác nhau trải dài qua ba triều đại Lê, Tây Sơn, Nguyễn. Hai gian bên của hậu cung là nơi thờ những vị nam thần phổ biến trong các đền Mẫu như Ngọc Hoàng và Ngũ vị Tôn ông. Các pho tượng này có kích thước nhỏ, được tạo tác vào thời Nguyễn.

Tượng các nữ thần đặt trong một khám thờ lớn ở giữa hậu cung, chạm khắc cầu kỳ. Lớp trên gồm 3 pho trong toà Thánh Mẫu (Mẫu Thiên, Mẫu Thuỷ, Mẫu Địa). Lớp dưới có tượng công chúa Liễu Hạnh và hai tiên nữ Quỳnh Hoa, Quế Hoa. Bên ngoài khám thờ này còn có bốn tượng nhỏ (2 tượng cô, 2 tượng cậu). Lại có hai khám thờ nhỏ hơn, bên phải đặt tượng chầu Thủ đền, bên trái là tượng Bà Chúa Thượng Ngàn.

Các khám, long ngai, hương án, án văn, câu đối, hoành phi… đều có chạm trổ tỉ mỉ với những hình rồng, hoa dây, chim phượng… mang phong cách thế kỷ 19. Những đồ thờ này được sơn son thếp vàng lộng lẫy.

Ngoài các bia Cảnh Thịnh 8 (1800), Tự Đức 19 (1866)… còn có 27 đạo sắc từ triều Lê, Tây Sơn đến Nguyễn phong thần cho Bà Chúa Liễu và hai vị tiên nữ. Thời Lê có 3 sắc năm Cảnh Hưng 44 (1783), 3 sắc năm Chiêu Thống Nguyên niên (1787). Thời Tây Sơn có 3 sắc năm Quang Trung 5 (1792), 3 sắc năm Cảnh Thịnh nguyên niên (1793). Triều Nguyễn có các sắc đời Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khấnh và Duy Tân.

Đền Bà Kiệu ngày xưa (Nguồn ảnh: internet)

Đền Bà Kiệu ngôi đền thiêng cổ kính tọa lạc tại không gian thiêng giữa lòng thủ đô Hà Nội, thờ Mẫu Liễu Hạnh bậc “Mẫu Nghi Thiên Hạ” là di tích quý hiếm, sẽ mãi mãi là niềm tự hào không chỉ của riêng người Hà Nội mà còn là của cả nước.

Xem thêm: Nét đẹp của KHÔNG GIAN XANH Vườn hoa Lý Thái Tổ trên app Hoàn Kiếm 360 khác biệt so với ngoài đời thực như thế nào? (hoankiem360.vn)

Copyright Hoan Kiem 360 © 2020. Developed & Managed by VinGG
Lượt truy cập: 3,231,112